Những việc người con đang quản lý nhà đất không được làm
Sau khi cha mẹ qua đời, nhiều gia đình chưa phân chia di sản như nhà đất thừa kế mà để một người con tiếp tục sinh sống, trông coi nhà đất. Tuy nhiên, có trường hợp người đang quản lý cho rằng mình có quyền sở hữu toàn bộ tài sản, từ đó muốn tự ý bán, chuyển nhượng hoặc làm thủ tục sang tên cho mình.
Vậy pháp luật quy định sao về trường hợp này?
Đại tá Nguyễn Thái Bình, Phó trưởng ban Công tác cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam (nguyên Phó cục trưởng Cục Điều tra hình sự, Bộ Quốc phòng), cho biết theo điều 616 bộ luật Dân sự, người quản lý di sản trước hết là người được chỉ định trong di chúc, hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
Nếu di chúc không chỉ định và những người thừa kế chưa cử được người quản lý thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý cho đến khi có người quản lý mới. Nếu chưa xác định được người thừa kế và chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Đại tá Nguyễn Thái Bình, Phó trưởng ban Công tác cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam
ẢNH: NGUYỄN ANH
Người quản lý di sản không phải là chủ sở hữu riêng của toàn bộ di sản. Họ có trách nhiệm lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản, bảo quản tài sản, thông báo tình trạng di sản cho những người thừa kế và giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
Đặc biệt, người quản lý di sản không được tự ý bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt di sản bằng hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản.
"Thực tế, trong nhiều gia đình, một người con đang quản lý căn nhà của cha mẹ sau khi cha mẹ qua đời rồi cho rằng mình là người đang ở trong nhà nên có quyền tự quyết định bán hoặc chuyển nhượng. Cách hiểu đó là không đúng", đại tá Nguyễn Thái Bình phân tích.
Ai không được phép từ chối nhận thừa kế?
Theo đại tá Nguyễn Thái Bình, pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của người thừa kế. Điều 620 bộ luật Dân sự cho phép người thừa kế được từ chối nhận di sản của cha mẹ để lại. Tuy nhiên, việc từ chối không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Nghĩa là nếu họ đang nợ tiền người khác thì họ không được phép từ chối nhận di sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Việc từ chối phải được lập thành văn bản, gửi cho người quản lý di sản, những người thừa kế khác và người được giao nhiệm vụ phân chia di sản biết; đồng thời phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
"Nếu một người nói miệng rằng "tôi không lấy phần thừa kế" thì chưa chắc đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp luật. Khi thực hiện việc từ chối nhận di sản phải chú ý đến hình thức và thời điểm theo luật định", đại tá Nguyễn Thái Bình nói.
Ai không được hưởng thừa kế?
Pháp luật cũng quy định những người không được quyền hưởng di sản tại điều 621 bộ luật Dân sự. Đó là những người có hành vi đặc biệt nghiêm trọng như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng di sản.

Nếu con cái ngược đãi cha mẹ, giả mạo, sửa chữa di chúc cũng không được hưởng di sản
ẢNH MINH HỌA: NGỌC DƯƠNG
Những người thừa kế có hành vi như lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản cha mẹ để lại di sản lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì cũng không được quyền hưởng di sản.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn tôn trọng ý chí cuối cùng của người để lại di sản. Nếu cha mẹ để lại di sản biết hành vi của con là sai nhưng vẫn cho hưởng di sản theo di chúc thì họ vẫn được hưởng.
Con cái có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của cha mẹ để lại?
Theo điều 615 bộ luật Dân sự, người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản mà mình được hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nói một cách dễ hiểu: thừa kế không chỉ là nhận tài sản mà còn phải xử lý những nghĩa vụ tài sản của người chết theo quy định pháp luật.
Ví dụ, người chết để lại tài sản trị giá 1 tỉ đồng nhưng còn khoản nợ hợp pháp 300 triệu đồng. Không thể nói rằng các con cứ chia nhau 1 tỉ đồng rồi mặc kệ khoản nợ. Khi đó, phải dùng tài sản của người chết để thanh toán khoản nợ 300 triệu đồng, số tiền còn lại mới được phân chia di sản cho các hàng thừa kế.
Thời hiệu chia thừa kế
Theo điều 623 bộ luật Dân sự, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (là thời điểm người có tài sản chết).
Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm người có tài sản chết.
"Khi xem xét một vụ việc thừa kế đã xảy ra từ nhiều năm trước, chúng ta không chỉ hỏi tài sản này của ai mà còn phải hỏi: thời điểm mở thừa kế là khi nào, loại tài sản gì và thời hiệu yêu cầu chia thừa kế còn hay đã hết?", đại tá Nguyễn Thái Bình lưu ý.










Bình luận (0)