Làn sóng chuyển dịch đầu tư
Vào tháng 12.2020, Unilever Việt Nam đưa ra một loạt các mục tiêu và hành động để thực hiện lộ trình giảm phát thải. Cụ thể, trong trung hạn, vào năm 2030, giảm 100% lượng phát thải tuyệt đối phát sinh từ hoạt động vận hành. Trong dài hạn, công ty hướng tới mục tiêu toàn bộ chuỗi giá trị đạt lượng phát thải bằng 0 vào năm 2039. Bước đầu tiên là loại bỏ khí thải từ vận hành của chính Unilever. Tiếp theo, trong toàn bộ chuỗi giá trị của mình, công ty giảm phát thải từ danh mục sản phẩm hiện tại thông qua các can thiệp ở cả sản xuất lẫn phân phối hàng hóa. Các chương trình đổi mới cũng thúc đẩy việc thiết kế lại các sản phẩm để giúp giảm lượng khí thải… Năm ngoái, Unilever Việt Nam đầu tư 3.000 tỉ đồng mở rộng nhà máy tại KCN Tây Bắc Củ Chi. Đến nay, hai nhà máy của doanh nghiệp tại Củ Chi và Bắc Ninh đều đã đạt chuẩn Net-Zero trong sản xuất.
Không chỉ Unilever, các tập đoàn đa quốc gia tên tuổi hàng đầu thế giới cũng đặt ra mục tiêu cắt giảm 30 - 50% phát thải phạm vi 3 (các phát thải khí nhà kính gián tiếp phát sinh trong toàn bộ chuỗi giá trị) vào năm 2030 - 2040. Để làm được điều đó, các tập đoàn yêu cầu toàn bộ nhà cung cấp phải sử dụng năng lượng tái tạo, kiểm kê phát thải hoặc vận hành trong KCN đạt tiêu chuẩn môi trường... Vì vậy, chuyển đổi xanh không còn đến từ những quy định của luật mà từ chính yêu cầu của thị trường. Theo Trung tâm Nghiên cứu giáo dục và Phát triển kinh doanh ESG, các cơ chế như thuế carbon xuyên biên giới (CBAM) của EU buộc hàng hóa xuất khẩu phải minh bạch "dấu chân carbon", khiến doanh nghiệp không thể đứng ngoài cuộc. Mặt khác, các tập đoàn đa quốc gia ngày càng siết chặt tiêu chuẩn ESG trong chuỗi cung ứng.

Nhu cầu điện mặt trời trong các KCN là rất lớn, một trong những tiêu chí trở thành KCN xanh
ẢNH: NHẬT THỊNH
Báo cáo của McKinsey & Company cho kết quả, 83% nhà đầu tư toàn cầu cho biết các yếu tố cấu thành ESG mang tính quyết định trong quyết định đầu tư của họ, tăng từ mức 64% vào năm 2019. Điều này phản ánh rõ xu hướng chuyển dịch trong chiến lược đầu tư toàn cầu. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy khoảng 80 - 85% các nhà đầu tư nước ngoài hiện đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn ESG khi đánh giá đối tượng đầu tư tiềm năng. Họ ưu tiên rõ rệt các KCN có cơ sở hạ tầng thân thiện với môi trường, hệ thống năng lượng tái tạo và khung chính sách bảo vệ môi trường minh bạch. Khi các chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng đặt nặng yêu cầu về phát triển bền vững, các KCN tuân thủ ESG sẽ có lợi thế cao nhất.
Với Việt Nam, trong bối cảnh cam kết phát triển bền vững và thu hút FDI chất lượng cao, việc "xanh hóa" các KCN trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Ông John Campbell, Trưởng bộ phận Bất động sản công nghiệp, Savills Việt Nam, cho rằng việc xây dựng KCN hiện đại, xanh và bền vững không chỉ là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh phát triển mới, mà còn mở ra cơ hội vàng để Việt Nam thu hút đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. "Phát triển bền vững và KCN sinh thái không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao từ châu Âu và Bắc Mỹ… Các yếu tố như hạ tầng kết nối, khung pháp lý rõ ràng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu đang ngày càng đóng vai trò quyết định trong việc thu hút và giữ chân dòng vốn FDI chất lượng cao", ông nói và nhận định, cùng với cam kết Net Zero 2050 và áp lực tiêu chuẩn ESG toàn cầu, trong vòng 5 - 7 năm tới, mô hình KCN xanh sẽ trở thành chuẩn mực cho các KCN của Việt Nam. Những chủ đầu tư hạ tầng nào hành động sớm, thiết kế quy hoạch xanh ngay từ đầu, cải tạo hạ tầng cũ theo tiêu chuẩn mới sẽ có được những lợi thế cạnh tranh vượt trội.
Chủ trương thu hút vốn vào công nghệ
Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Vì thế, các KCN xanh được ưu tiên hỗ trợ công nghệ, xuất khẩu, thương hiệu, chuỗi giá trị và vay ưu đãi theo Nghị định 35/2022/NĐ-CP, tạo lợi thế vượt trội so với KCN truyền thống. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, nổi bật là Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng FDI đến năm 2030, tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, quản trị hiện đại với giá trị gia tăng lớn. Tuy nhiên, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đánh dấu bước chuyển chiến lược quan trọng trong chiến lược thu hút FDI. Nếu trước đây, trọng tâm là thu hút vốn đầu tư, thì Nghị quyết 10 chuyển mạnh sang tư duy xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả lan tỏa làm tiêu chí cốt lõi.

Lợi thế cạnh tranh của các KCN xanh hiện nay là vượt trội
ẢNH: AI
Theo đó, ưu tiên thu hút các ngành công nghệ tương lai như bán dẫn, AI, internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học, vật liệu mới và năng lượng xanh; đồng thời chuyển từ cơ chế ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Nghị quyết cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể như đến năm 2030, Việt Nam hướng tới thu hút 200 - 300 tỉ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150 - 200 tỉ USD; đồng thời kỳ vọng khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI. Đích đến vì thế không chỉ là nhiều vốn hơn, mà là nhiều giá trị ở lại trong nền kinh tế Việt Nam hơn.
Sau khi Nghị quyết 10 được ban hành, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) đã triển khai 4 nhóm giải pháp trọng tâm để thu hút vốn FDI công nghệ cao nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, gồm hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường các chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI. Bộ Tài chính nhấn mạnh, các chính sách ưu tiên sẽ tập trung vào phát triển hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu - phát triển (R&D) và đổi mới sáng tạo. Đối với hạ tầng năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo cần gắn với xu hướng chuyển dịch xanh và yêu cầu phát triển bền vững của các tập đoàn đa quốc gia. Đối với nhóm giải pháp hỗ trợ, tiếp tục đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng tâm, tập trung vào các tập đoàn công nghệ lớn và các dự án có giá trị gia tăng cao, khả năng lan tỏa công nghệ mạnh. Việc tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước sẽ được thúc đẩy nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó gia tăng hiệu quả lan tỏa của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế…
Thực trạng phân hóa giữa các KCN
Vốn FDI vào Việt Nam liên tục tăng cao trong những năm qua, kể cả các doanh nghiệp trong nước cũng tăng mạnh đầu tư. Vì thế, nhu cầu thuê đất trong KCN cũng tăng mạnh. Thế nhưng tại sao vẫn có những KCN không thể lấp đầy? Theo nhóm nghiên cứu của Học viện Tài chính, về mặt địa lý, dòng vốn FDI công nghệ cao tập trung chủ yếu tại Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Hà Nội - Bắc Ninh - Thái Nguyên cũ), là trung tâm của chuỗi sản xuất điện tử, nghiên cứu và phát triển (R&D). Trong khi đó, TP.HCM và các tỉnh lân cận (Bình Dương, Đồng Nai cũ) tập trung vào sản xuất phần cứng, thiết bị công nghệ, phần mềm; Đà Nẵng, Bắc Giang, Hải Phòng (cũ) đang nổi lên như các địa phương cạnh tranh hấp dẫn về nhân lực và hạ tầng công nghệ.
Năm 2026 chứng kiến sự phân hóa rõ rệt và sự trỗi dậy của các dòng vốn FDI chất lượng cao (bán dẫn, công nghệ cao, năng lượng xanh). Điều này tác động trực tiếp đến tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp trên cả 3 miền. Theo kết quả nghiên cứu của CBRE, tính đến quý 1/2026, tỷ lệ lấp đầy khác biệt ở các vùng miền. Cụ thể, tỷ lệ lấp đầy KCN miền Bắc (đặc biệt là các thủ phủ công nghiệp như Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương) tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Nhờ lợi thế kết nối hạ tầng giao thông đồng bộ và hệ thống cảng biển nước sâu, tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp tại các tỉnh trọng điểm này hiện dao động ở mức 80%. Nhiều KCN mới đưa vào vận hành cũng nhanh chóng được lấp đầy diện tích giai đoạn 1 nhờ làn sóng đầu tư vào ngành linh kiện điện tử và bán dẫn.

Hoạt động sản xuất tại Công ty TNHH Hyundai Kefico Việt Nam, một trong những doanh nghiệp FDI công nghệ cao ở Việt Nam
ẢNH: NGỌC THẮNG
Trong khi đó, tỷ lệ lấp đầy tại "thủ đô công nghiệp" miền Nam bao gồm Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, quỹ đất sạch tại các vị trí "gần sông, gần đường" ngày càng khan hiếm. Chính vì vậy, tỷ lệ lấp đầy các KCN tại đây luôn neo ở mức rất cao, trung bình đạt từ 86%. Sự thiếu hụt nguồn cung đất công nghiệp liền kề TP.HCM đã đẩy giá thuê tăng trưởng ổn định, đồng thời buộc các nhà đầu tư phải dịch chuyển làn sóng tìm kiếm ra các khu vực vùng ven xa hơn. Trong khi đó, tỷ lệ lấp đầy KCN miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định cũ) - khu vực được cho là thiếu dòng vốn FDI công nghệ cao hay các KCN xanh - chỉ đạt khoảng 57%.
Theo ông John Campbell, phát triển KCN xanh mang lại lợi thế cạnh tranh rõ rệt cho nhà đầu tư và doanh nghiệp sản xuất. Trước hết, đó là yêu cầu của xu hướng toàn cầu, thứ hai là giảm chi phí vận hành dài hạn nhờ ứng dụng công nghệ sạch và tái sử dụng tài nguyên giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể. Nghiên cứu của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cũng chỉ ra rằng, mô hình KCN sinh thái có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm 10 - 20% chi phí năng lượng và giảm 20 - 30% tiêu thụ nước thông qua tái chế và tái sử dụng. Thêm vào đó, các nhà máy tiết kiệm năng lượng còn có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn xanh (trái phiếu xanh, quỹ bảo vệ môi trường…). Thứ ba là giảm rủi ro pháp lý khi các quy định môi trường ngày càng siết chặt (ví dụ cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam) đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi. Đặc biệt, từ năm 2026, EU áp dụng cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) với thuế carbon trong một số ngành thải nhiều khí nhà kính (thép, xi măng, nhôm…). KCN xanh giúp giảm lượng phát thải đầu vào, tạo điều kiện tiếp tục xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU mà không chịu thuế suất cao. Ngược lại, doanh nghiệp tại KCN thông thường sẽ gặp thiệt hại nếu phải nộp thuế carbon ở biên giới.
"Thị trường bất động sản công nghiệp đang bước sang giai đoạn phát triển mới, nơi tăng trưởng không chỉ đến từ mở rộng diện tích mà còn từ chất lượng dự án, quy mô đầu tư và giá trị gia tăng cao hơn. Đây là một sự chuyển dịch mang tính dài hạn. Quá trình này đòi hỏi nhà đầu tư phải ứng dụng các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu ngay hôm nay, thay vì chờ quy định bắt buộc", ông John Campbell cũng khẳng định: "Các dự án đạt chứng chỉ công trình xanh LEED/EDGE hay các khu công nghiệp xanh đang được quan tâm đặc biệt, cho thấy sự chuyển dịch sang phát triển bền vững".
Tiêu chí KCN xanh
Nghị định 35/2022/NĐ-CP quy định các tiêu chí cốt lõi để một KCN được công nhận sinh thái. Cụ thể, diện tích xanh tối thiểu 25% diện tích khu dùng cho cây xanh, mặt nước, giao thông, hạ tầng xã hội và kỹ thuật chung. Các doanh nghiệp trong KCN phải hợp tác tái sử dụng phụ phẩm hoặc nguyên liệu phụ, hình thành ít nhất một "mạng lưới cộng sinh". Ít nhất 20% doanh nghiệp trong KCN phải thực hiện các giải pháp sạch hơn. Chủ đầu tư hạ tầng KCN phải cam kết đáp ứng đầy đủ tiêu chí sinh thái trong vòng 8 năm kể từ khi thành lập…
Hiện trạng KCN Việt Nam
Việt Nam hiện có 443 KCN đã được thành lập trên tổng diện tích gần 95.000 ha. Theo khảo sát của Viet Research, 83% KCN đã ban hành chính sách bảo vệ môi trường chính thức, trong đó 50% KCN đã công khai các chính sách này. Ngoài ra, 83% KCN đang triển khai hoặc đã xây dựng kế hoạch Net Zero, thể hiện cam kết mạnh mẽ tr









Bình luận (0)